1. Tổng quan tình hình sản xuất
Đức có rất nhiều các tập đoàn dệt may lớn quy mô quốc tế. Trong EU, Đức được coi là nước sản xuất lớn hàng dệt may, bên cạnh Tây Ban Nha, Italia và Pháp. Ngoài ra, hàng thời trang của nước này cũng khá hiện đại, thực dụng và có kiểu cách phù hợp với đa dạng nhu cầu của người tiêu dùng. Trong những năm gần đây, hầu như tất cả các nhà sản xuất Đức đã đẩy mạnh việc tìm kiếm khả năng hợp tác với các nước đang phát triển để đặt cơ sở sản xuất của họ tại đó do những khu vực có chi phí sản xuất thấp. Mức độ chuyên nghiệp hóa trong sản xuất hàng dệt may của Đức là rất cao do nước này đồng thời là một trong những nước xuất khẩu các loại máy móc dệt may hiện đại nhất trên thế giới.
Bảng 7: Tình hình sản xuất một số mặt hàng dệt may của Đức, giai đoạn 2001-2005, đơn vị tính: triệu Euro
Mặt hàng 2001 2003 2005 Tỷ lệ tăng/giảm giai đoạn 2001-2005
Đồ lót nữ 97,3 92,7 81,3 - 6,1%
Đồ lót nam 64,4 40,6 35,4 - 6,4%
Áo sơ mi cộc tay 470,4 206,7 203,2 - 0,8%
Quần áo bó mặc lót 22,8 17,2 12,5 - 13,7%
Đồ ngủ 79,1 60,5 48,5 - 9,9%
Đồ bơi 66,0 28,5 18,3 - 17,9%
Hàng dệt kim 408,1 395,8 331,1 - 8,2%
Tổng cộng 1,208,1 842,0 730,3 - 6,6%
(Nguồn: Eurostat/Prodcom, 2006)
2. Xu hướng sản xuất
Hàng dệt may Đức đang tìm chỗ đứng trên chính thị trường của mình bằng cách tập trung vào các nhóm sản phẩm thời trang cao cấp và độc đáo về thiết kế, kiểu dáng và chất liệu nhưng có giá cả phù hợp với khả năng chi trả của người tiêu dùng Đức (vốn nổi tiếng là những người tiêu dùng nhạy bén về giá).
Hy vọng chính của các nhà sản xuất Đức là ngành dệt may sẽ tiếp tục được bảo hộ bởi EU và chính phủ các nước thành viên, đồng thời tập trung vào việc mở rộng quy mô sản xuất cho các thị trường bên ngoài nơi hàng dệt may của Đức đang ngày càng được chấp nhận.
Để tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ ở các thị trường đang phát triển, nhiều công ty Đức đã đẩy mạnh chiến dịch đặt hàng sản xuất tại nước ngoài. Những khu vực được các nhà sản xuất Đức quan tâm bao gồm Bắc Pi, Trung Quốc, các nước Đông Âu và cả các nước trong khu vực Đông Nam Á.
3. Những nhà sản xuất chính
Escada AG
Escada được thành lập năm 1974 bởi Wolfgang và Margaretha Ley. Các dòng sản phẩm đầu tiên của hãng có nhãn mác là Escada. Bốn năm sau, hãng cho ra đời dòng sản phẩm với thương hiệu Laurèl, chủ yếu là các loại com plê và trang phục công sở. Năm 1984, hãng đổi tên thành Escada AG và niêm yết trên sàn chứng khoán Đức vào năm 1986. Một năm sau, hãng sát nhập thêm Schneberger (ngày nay là Primera AG) và đưa ra bộ sưu tập Apriori vào năm 1989. Năm 1988, tập đoàn này mua lại Kemper và dành được quyền sản xuất và phân phối hàng dệt may thương hiệu Cerruti 1881 từ Nino Cerruti. Tính đến năm 2004, tập đoàn này sở hữu 453 cửa hàng ở 60 nước và vùng lãnh thổ. Riêng trong năm 2003, doanh thu của tập đoàn này là gần 770 triệu Euro. Tính đến năm 2007, tập đoàn này có 211 cửa hàng và 277 cơ sở kinh doanh nhượng quyền ở trên 60 nước. Tuy nhiên, tập đoàn này chủ yếu hoạt động tại Đức và có trụ sở tại Munic, tuyển dụng tới 4.000 lao động. Tính đến hết năm tài chính (vào tháng 10/2006), doanh thu của Escada là 695,2 triệu Euro, tăng 7,2% so với năm 2005, với tổng mức lợi nhuận là 74,1 triệu Euro, tăng 13,8% so với năm 2005.
Chiến lược chung của tập đoàn là mở rộng phạm vi hoạt động thông qua việc mua lại đa số cổ phần của các nhà sản xuất hàng dệt may hàng đầu khác đồng thời đầu tư vào các hoạt động kinh doanh nhượng quyền.
Tập đoàn có vị trí khá cạnh tranh trên thị trường nhờ dòng sản phẩm là trang phục mặc ngoài cao cấp dành cho phụ nữ, bao gồm cả các trang phục mặc ban ngày, buổi tối, trang phục công sở, dạo chơi, những trang phục sang trọng dành cho các dịp đặc biệt như áo cưới dành cho cô dâu và chú rể. Các thương hiệu sản phẩm chính của tập đoàn bao gồm Escada và Escada Sport. Những thương hiệu sản phẩm khác của tập đoàn là Laurèl, Cavita, Apriori và BiBA (dành cho dòng sản phẩm có mức giá trung bình). Ngoài ra, tập đoàn cũng sở hữu thương hiệu Gigi dành cho những sản phẩm dệt may ngoại cỡ.
Klaus Steilmann GmbH & Co KG
Công ty được thành lập bởi Klaus Steilmann vào năm 1958 với một số ít máy khâu và số vốn khởi điểm là 40.000 mác Đức. Ban đầu công ty tập trung vào sản xuất áo khoác ngoài dành cho nữ giới nhưng nhanh chóng mở rộng sang các loại trang phục mặc ngoài khác và cung cấp hàng cho 22.000 nhà bán lẻ. Năm 2003, tổng doanh thu của công ty là 420 triệu Euro, trong đó doanh thu từ các mặt hàng xuất khẩu chiếm 45%. Công ty tuyển dụng trên 10.000 lao động trên toàn thế giới.
Công ty đã thay đổi quy trình sản xuất của mình từ việc tập trung vào các loại quần áo may sẵn theo mùa sang sản xuất những bộ sưu tập khác nhau theo xu hướng thời trang mới vào giữa các mùa cho các nhà bán lẻ khác nhau. Trong số nhiều nhóm khách hàng mục tiêu mới scủa công ty là những phụ nữ ở độ tuổi 40.
Công ty vừa tự sản xuất ở trong nước vừa đặt hàng sản xuất tại nước ngoài. Công ty cũng là một trong số những nhà sản xuất đầu tiên nhận được chứng chỉ về an toàn môi trường quốc tế theo qui định của Hội đồng Châu Âu (EC).
Công ty có vị trí khá cạnh tranh trên thị trường nhờ các trang phục mặc ngoài của nữ giới và nam giới với thương hiệu Steilmann và tập trung vào các dòng sản phẩm cao cấp với mức giá trung bình. Những thương hiệu sản phẩm khác của công ty là Stones, Di Quattro và Swept. Thêm vào đó, công ty cũng sản xuất một số các bộ sưu tập mang nhãn hiệu riêng cho các chuỗi bán lẻ ở Đức. Bên cạnh đó, công ty cũng đã bắt đầu cùng sản xuất bộ sưu tập hàng thời trang cao cấp KL với hãng Karl Lagerfeld vào năm 1988. Tại thị trường Đức, công ty đứng thứ hai về trang phục mặc ngoài dành cho nữ giới. sau đối thủ cạnh tranh là Gerry Weber and S Oliver nhưng đứng đầu về áo choàng và com plê.
Hugo Boss AG
Năm 1923, Hugo Boss thành lập một cơ sở kinh doanh hàng may mặc với chính tên gọi của mình tại Metzingen - Đức. Đến năm 1933, cơ sở này trở thành công ty quy mô nhỏ nhưng nhờ có một hợp đồng hấp dẫn về sản xuất các loại đồng phục SS, SA và HJ cho NSDAP, công ty này đã mở rộng với 285 nhân công vào năm 1942. Sau chiến tranh, công ty được chuyển giao cho con rể của Hugo Boss là Eugen Holy và cuối cùng cho người cháu trai của Hugo Boss.
Vào năm 1953, Boss bắt đầu sản xuất com plê cho nam giới. Vào đầu những năm 1970, Boss trở thành nhà sản xuất các trang phục mặc ngoài cao cấp và thời trang cho nam giới. Năm 1985, công ty trở thành một trong những hãng dệt may hàng đầu trên thế giới. Năm 2003, tổng doanh thu của công ty là 1.054 triệu Euro, trong đó doanh thu từ xuất khẩu chiếm 70%. Lợi nhuận của hãng trong 9 tháng đầu năm 2007 là 153 triệu Euro, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2006 (Nguồn: ANSA).
Trong chiến lược phát triển của mình, Hugo Boss đã tập trung vào việc chuyển dần các thương hiệu sản phẩm riêng lẻ thành các nhãn hiệu thời trang mang phong cách quốc tế và được thế giới công nhận. Hãng phân phối sản phẩm của mình thông qua các cửa hàng mang thương hiệu riêng và các nhà bán lẻ hàng thời trang cao cấp.
Hãng có vị trí khá cạnh tranh trên thị trường nhờ các sản phẩm mang thương hiệu chính là Boss bao gồm bộ sưu tập mở rộng dành cho nữ giới và bô bộ sưu tập độc lập dành cho nam giới. Các sản phẩm mang thương hiệu phụ trợ Boss Black là những sản phẩm có kiểu dáng trẻ trung và giá cả ở mức dễ được người tiêu dùng Đức chấp nhận. Những sản phẩm mang thương hiệu Boss Orange là những loại thường phục. Boss Green là thương hiệu dành cho các loại trang phục đa chức năng như trang phục thể thao ngoài trời...
Van Laack
Van Laack là tập đoàn dệt may hàng đầu của Đức nổi tiếng với các sản phẩm cao cấp như: sơ mi, quần áo, đồ đan sợi và đồ mặc ở nhà. Tính đến năm 2006, tập đoàn này đã có 125 năm bề dày hoạt động, có nhà máy sản xuất ở nhiều nước trên thế giới và bán sản phẩm tới 40 quốc gia. Sau khi đóng cửa nhà máy ở Hồng Kông, Van Laack sẽ tập trung đầu tư sản xuất tại Việt Nam với tham vọng đưa Việt Nam trở thành một cứ điểm sản xuất lớn của tập đoàn. Ngày 28/11/2006, tập đoàn này đã chính thức đưa vào hoạt động nhà máy may tại Khu công nghiệp Ngọc Hồi - Hà Nội với tổng vốn đầu tư 3 triệu USD. Đây cũng là nhà máy may đầu tiên của các nhà đầu tư Cộng hoà Liên bang Đức tại Việt Nam. Toàn bộ sản phẩm của nhà máy sẽ được xuất khẩu theo các kênh phân phối của tập đoàn mẹ ra thị trường thế giới.
4. Cơ hội và thách thức đối với việc sản xuất hàng dệt may cho thị trường Đức
+ Đức vẫn là thị trường tiêu thụ hàng dệt may lớn ở EU, tuy nhiên, chi tiêu của người tiêu dùng đối với mặt hàng này có xu hướng giảm nhưng dự báo sẽ tăng kể từ năm 2007.
+ Nhu cầu về hàng dệt may tại Đức sẽ tăng nhẹ trong giai đoạn 2007-2009. Số lượng trang phục được mua tính theo đầu người sẽ tiếp tục tăng nhưng giá không có dấu hiệu tăng.
+ Do tình hình kinh tế chậm tăng trưởng, nhiều người tiêu dùng Đức có thu nhập thấp sẽ có xu hướng tìm kiếm các mặt hàng giá rẻ, tuy nhiên phân đoạn thị trường dành cho người có thu nhập cao cũng sẽ phát triển sôi động, nhất là những mặt hàng có chất lượng cao cấp, thuận tiện cho việc sử dụng, có nhãn mác của các nhà thiết kế nổi tiếng.
+ Để thỏa mãn nhu cầu của nhiều công ty nhập khẩu tại Đức, nhà sản xuất ở các nước đang phát triển cần tăng cường chú ý đến chất lượng sản phẩm và sự thân thiện của sản phẩm đối với xã hội và môi trường.
+ Chiến lược của nhiều nhà sản xuất Đức là đặt hàng sản xuất ở những nước có chi phí thấp và có khả năng làm được những sản phẩm có hàm lượng thiết kế cao.
+ Tương lai có vẻ không đơn giản đối với các công ty Đức. Tuy nhiên chính phủ nước này đang thực thi những biện pháp bảo hộ cần thiết cho ngành, trong khi các công ty tiếp tục tập trung cải tiến mẫu mã thiết kế, chất lượng sản phẩm để ngành dệt may Đức có vị trí quan trọng trên thị trường dệt may thế giới.
5. Địa chỉ thông tin hữu ích về sản xuất hàng dệt may
http://www.germanfashion.net
http://www.textil-mode.de
http://www.wer-zu-wem.de
Euratex Bulletins (http://www.euratex.org);
(vietrade)