Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu tháng 7 ước đạt 8,4 tỷ USD, giảm 0,7% so với tháng 6 nhưng tăng 38,5% so với tháng 7/2010, trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 3,75 tỷ USD, giảm 2,2% so với tháng 6 nhưng tăng 24,5% so với tháng 7/2010.
Tính chung 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 51,46 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ, trong đó, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 23,7 tỷ USD, tăng 32,8%. Đến nay có 13 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là: thuỷ sản; cà phê; gạo; cao su; dầu thô; xăng dầu; sản phẩm gỗ; hàng dệt may mặc; giầy dép các loại; đá quý và kim loại quý; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; phương tiện vận tải và phụ tùng.
Xét theo nhóm hàng, so với cùng kỳ, kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thuỷ sản ước đạt trên 11,26 tỷ USD, tăng 38,8% và chiếm tỷ trọng 21,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó, một số mặt hàng có kim ngạch tăng trưởng mạnh như: cà phê tăng 83,7%, hạt tiêu tăng 63,9%, sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 81,5%, cao su tăng 77,2%, ... riêng mặt hàng chè các loại giảm 0,7%; kim ngạch xuất khẩu nhóm nhiên liệu, khoáng sản ước đạt 6,34 tỷ USD, tăng 37,6% và chiếm tỷ trọng 12,3%, trong đó: xăng dầu tăng 68,8%, quặng và khoáng sản tăng 63,7%, dầu thô tăng 39,1%.
Riêng mặt hàng than đá chỉ tăng 8,1%; kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 25,76 tỷ USD, tăng 24,3% và chiếm tỷ trọng 50,0%, trong đó: sản phẩm hóa chất tăng 51,8%, sắt thép các loại tăng 44,2%, chất dẻo nguyên liệu tăng 36,4%, túi sách, vali, mũ tăng 35,6%, sản phẩm từ sắt thép tăng 32,8%,...; nhóm hàng hóa khác ước đạt 8,11 tỷ USD, tăng 58,6% và chiếm tỷ trọng 15,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Xét về giá, so với cùng kỳ, giá nhiều mặt hàng xuất khẩu tăng như: nhân điều tăng 44,7%, cà phê tăng 55,6%, chè các loại tăng 4,3%, hạt tiêu tăng 68,5%, gạo tăng 1,4%, sắn và sản phẩm từ sắn tăng 30,8%, cao su tăng 59,0%, than đá tăng 24,0%, dầu thô tăng 44,7%, xăng dầu các loại tăng 39,2%, quặng và khoáng sản khác tăng 16,7%, sắt thép tăng 19,9%, chất dẻo nguyên liệu tăng 13,5%.
Xét về lượng, so với cùng kỳ, một số mặt hàng có lượng xuất khẩu tăng cao như: quặng và các khoáng sản khác tăng 40,3%, sắn và các sản phẩm sắn tăng 38,8%, xăng dầu tăng 21,3%, sắt thép tăng 20,3%, chất dẻo nguyên liệu tăng 20,1%, cà phê tăng 18%, gạo tăng 9,0%. Tuy nhiên, một số mặt hàng lượng xuất khẩu giảm đáng kể như: nhân điều giảm 16,9%, chè giảm 4,8%, than đá giảm 12,8%, dầu thô giảm 3,9%.
Nhìn chung, xuất khẩu vào các khu vực thị trường đều có mức tăng trưởng khá cao: xuất khẩu vào ASEAN tăng 19,0% và chiếm tỷ trọng 14,3%; xuất khẩu vào Nhật Bản tăng 23,1% và chiếm tỷ trọng 9,9%; xuất khẩu vào Trung Quốc tăng 57,7% và chiếm tỷ trọng 10,5%; xuất khẩu thị trường Mỹ tăng 20,1% và chiếm tỷ trọng hơn 17,9%; xuất khẩu vào EU tăng 47,1% và chiếm tỷ trọng 17,1%.
Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tháng 7 ước đạt 8,6 tỷ USD, giảm 0,2% so với tháng 6 nhưng tăng 21,2% so với tháng 7/2010, trong đó: kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3,85 tỷ USD, tăng 0,2% so với tháng 6 và tăng 23,4% so với tháng 7/2010.
Tính chung 7 tháng, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 58,1 tỷ USD tăng 26,2% so với cùng kỳ, trong đó: kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 32,69 tỷ USD, tăng 23,8% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 56,3%; kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 25,42 tỷ USD, tăng 29,5% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 43,7% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước .
Xét theo nhóm hàng, so với cùng kỳ, kim ngạch của nhóm hàng cần nhập khẩu ước đạt 47,3 tỷ USD, tăng 24,8% và chiếm tỷ trọng 81,4%; kim ngạch của nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu ước đạt 2,77 tỷ USD tăng 16,6% và chiếm tỷ trọng 4,8%; kim ngạch của nhóm hàng cần hạn chế ước đạt 3,31 tỷ USD, tăng 9,7% và chiếm tỷ trọng 5,7%; nhóm hàng hóa khác ước đạt 2,74 tỷ USD, tăng 71,9%, chiếm tỷ trọng 8,1%.
Xét về giá và lượng nhập khẩu, so với cùng kỳ, nhiều mặt hàng có khối lượng và giá nhập khẩu tăng. Các mặt hàng là nguyên liệu phục vụ sản xuất và hàng tiêu dùng đều tăng, trong đó có những mặt hàng tăng mạnh như: bông tăng 97,7%, lúa mỳ tăng 70,5%, phân bón tăng 63,9%, xăng dầu các loại tăng 58,5%, cao su các loại tăng 54,2%, sợi các loại tăng 51,8%,... Thậm chí, những mặt hàng thuộc nhóm cần hạn chế nhập khẩu cũng tăng như: ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ tăng 63,8%, hàng tiêu dùng các loại (trừ ôtô dưới 9 chỗ) tăng 6,4%,...
Về thị trường nhập khẩu, nhập khẩu từ thị trường Châu Á tăng 28,7% và chiếm tỷ trọng khoảng 79,3% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, trong đó: Trung Quốc tăng 21,5%, chiếm tỷ trọng 23,6%, ASEAN tăng 33,0%, chiếm tỷ trọng 20,4%, Hàn Quốc tăng 37,8%, chiếm tỷ trọng 12,4%, Nhật Bản tăng 14,4%, chiếm tỷ trọng 9,6%. Nhập khẩu từ thị trường EU tăng 20,6% và chiếm tỷ trọng 7,2% .
Như vậy, về cán cân thương mại, ước nhập siêu 7 tháng gần 6,64 tỷ USD, chiếm 12,9% kim ngạch xuất khẩu, trong đó, khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) nhập siêu hơn 1,7 tỷ USD. Tỷ lệ nhập siêu giảm dần (6 tháng là 14,95%) và chủ yếu từ các nước như Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc, Đài Loan.
Về thị trường trong nước, nhìn chung, thị trường trong nước tháng 7 ổn định, hàng hóa, dịch vụ phục vụ hè sôi động do nhu cầu mua sắm, vui chơi giải trí tăng. Nguồn cung hàng hóa đa dạng, phong phú về chất lượng và xuất xứ, đổ dồn về hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để đáp ứng nhu cầu thị trường tăng đột biến trong mùa thi đại học, cao đẳng. Vì vậy nên tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tháng 7 ước đạt 154,4 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng 6; tính chung 7 tháng ước đạt 1.065,8 nghìn tỷ đồng, tăng 22,3% so với cùng kỳ, trong đó: ngành thương nghiệp ước đạt 843,4 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% và chiếm tỷ trọng 79,1%; khách sạn, nhà hàng ước đạt 115,2 nghìn tỷ đồng, tăng 20,9% và chiếm tỷ trọng 10,8%; dịch vụ ước đạt 96,5 nghìn tỷ đồng, tăng 23,4% và chiếm tỷ trọng 9,1%; du lịch ước đạt 10,7 nghìn tỷ đồng, tăng 16,9% và chiếm tỷ trọng 1,0%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tiếp tục tăng 1,17% so với tháng 6 và tăng 14,61% so với tháng 12/2010; bình quân 7 tháng tăng 16,98% so với cùng kỳ. Giá cả một số hàng hóa thiết yếu có dấu hiệu chững lại, duy chỉ có giá thực phẩm, giá ăn uống ngoài gia đình và đồ may mặc trên thị trường biến động tăng nhẹ, nhóm bưu chính viễn thông giảm không đáng kể. Chỉ số giá tiêu dùng giảm dần cho thấy việc thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát đã phát huy tác dụng.